Nhu cầu đào tạo ngành bán dẫn tăng gấp đôi

calendar-icon 05/03/26 11:32
Tác giả: Tú Anh

Theo Giáo dục thời đại - Nhu cầu nhân lực ngành bán dẫn trên toàn cầu tăng mạnh khi cuộc đua công nghệ ngày càng khốc liệt, nhưng hệ thống giáo dục đại học vẫn chưa theo kịp tốc độ này. 

Cuộc đua ngành chip bán dẫn tạo áp lực lên giáo dục đại học toàn cầu.

Khoảng cách lớn giữa cung và cầu đang tạo ra cả cơ hội phát triển lẫn những rủi ro dài hạn cho thị trường lao động công nghệ cao.

Theo Báo cáo “Giáo dục Đại học và Việc làm liên quan đến bán dẫn” (SHEE) do tổ chức giáo dục Studyportals công bố, từ năm 2019 đến 2025, nhu cầu của sinh viên đối với ngành bán dẫn tăng gấp đôi, trong khi số lượng chương trình đào tạo không thay đổi.

Khoảng cách cung - cầu thể hiện rõ nhất ở bậc thạc sĩ. Trong giai đoạn từ tháng 11/2023 đến tháng 10/2025, hơn 650 nghìn lượt truy cập vào trang Studyportals để tìm hiểu thông tin đào tạo ngành bán dẫn. Hơn một nửa số chương trình được quan tâm tại Mỹ và Anh.

Đáng chú ý, các chương trình thạc sĩ thu hút tới 60% tổng nhu cầu của sinh viên, nhưng chỉ chiếm 30% tổng số chương trình sẵn có. Trong khi đó, ở bậc cử nhân, sinh viên có nhiều lựa chọn hơn trong các ngành nền tảng như kỹ thuật điện.

Phân tích theo quốc gia cho thấy xu hướng rất khác biệt. Gần 40% sinh viên Tunisia quan tâm đến thạc sĩ bán dẫn muốn ra nước ngoài học tập, một phần do trong nước thiếu chương trình phù hợp. Sự quan tâm đến Italy tăng 20% trong bối cảnh nước này có thỏa thuận lao động với Tunisia.

Sinh viên Mỹ ghi nhận mức tăng 21% về quan tâm đến thiết kế chip, trong khi Bangladesh và Thổ Nhĩ Kỳ tăng lần lượt 12% và 8%. Ngược lại, sự quan tâm của sinh viên Ấn Độ đến việc du học ngành này giảm 17%, kéo theo mức sụt giảm du học tại Mỹ và Canada lần lượt là 21% và 23%.

Nguyên nhân tại Canada được cho là do chính sách hạn chế visa sinh viên. Còn tại Mỹ, yếu tố chính sách nhập cư và môi trường chính trị được đánh giá là tác động đến nhận thức của sinh viên quốc tế.

Báo cáo SHEE cũng chỉ ra ba rào cản lớn khiến nhiều trường đại học chưa mặn mà mở rộng đào tạo chip. Thứ nhất là chi phí thiết bị khổng lồ. Đơn cử, máy móc phục vụ đào tạo kỹ sư bán dẫn có thể lên tới hàng trăm triệu USD.

Thứ hai là yêu cầu về cơ sở hạ tầng chuyên dụng và đội ngũ vận hành được đào tạo bài bản. Thứ ba là mô hình bằng cấp truyền thống chưa theo kịp tính liên ngành của ngành bán dẫn, vốn đòi hỏi kết hợp giữa khoa học vật liệu, kỹ thuật, đổi mới sáng tạo và cả các yếu tố bền vững.

Tuy vậy, một số trường đã tìm cách đổi mới. Đại học Purdue, Mỹ, đang phát triển mô hình ảo quy trình sản xuất chip để sinh viên thực hành trước khi tiếp cận máy móc thật. Đại học Quốc gia Đài Loan, Trung Quốc, triển khai chương trình ba tháng dành cho cả người không có nền tảng khoa học, với 70% học viên tìm được việc làm công nghệ. Tại Hàn Quốc, Đại học Quốc gia Seoul hợp tác với Samsung, cấp học bổng toàn phần và đảm bảo việc làm sau tốt nghiệp.

Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng khốc liệt, khoảng cách cung - cầu hiện tại không chỉ là thách thức cho sinh viên, mà còn là tín hiệu đổi mới cho các trường đại học và chính phủ.

28% sinh viên tốt nghiệp ngành thiết kế chip làm việc tại các công ty sản xuất thiết bị gia dụng và điện tử, 24% trong năng lượng tái tạo và 20% trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất bán dẫn. Các tập đoàn lớn như Apple, Intel, ASML hay Dell thu hút tỷ lệ đáng kể sinh viên từ nhiều quốc gia.

Bài viết liên quan

 Toàn bộ đại học Malaysia sử dụng Gemini

Toàn bộ đại học Malaysia sử dụng Gemini

calendar-icon 13/03/26 15:48
Theo Giáo dục thời đại - Toàn bộ 20 trường đại học công lập tại Malaysia sẽ phối hợp với Google triển khai nền tảng trí tuệ nhân tạo (AI) Gemini for Education vào đào tạo và nghiên cứu.  Bộ Giáo dục Đại học Malaysia hợp tác với Google. Sáng kiến này dự kiến tiếp cận gần 600 nghìn sinh viên và khoảng 75 nghìn giảng viên, là bước tiến trong mục tiêu của Malaysia trở thành quốc gia AI đến năm 2030. Gemini for Education cung cấp các công cụ hỗ trợ nghiên cứu, học tập và quản lý học thuật dựa trên AI, đồng thời đảm bảo môi trường sử dụng an toàn cho giảng viên và sinh viên. Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục Đại học Malaysia cũng trang bị Google AI Pro cho Giáo dục cho khoảng 40 nghìn giảng viên, cho phép họ truy cập các mô hình AI cao cấp. Khoảng 128 nghìn sinh viên cũng được cung cấp quyền sử dụng trợ lý nghiên cứu AI NotebookLM Enterprise nhằm hỗ trợ quá trình nghiên cứu, phân tích tài liệu và viết học thuật. Công cụ Gemini for Education có tính năng như học...
Cơn sốt giáo dục sớm: Trẻ nhỏ, kỳ thi lớn

Cơn sốt giáo dục sớm: Trẻ nhỏ, kỳ thi lớn

calendar-icon 29/12/25 13:30
Theo Giáo dục thời đại - Từ Singapore, Hồng Kông đến Seoul, trẻ mẫu giáo đang bước vào những cuộc thi và buổi phỏng vấn đầy căng thẳng mà nhiều người lớn cũng phải dè chừng. Trẻ Hồng Kông phải làm bài kiểm tra năng lực vào mẫu giáo. Khi áp lực học tập len vào những năm tháng đầu đời, câu hỏi đặt ra là: Liệu trẻ có được sống đúng tuổi thơ, hay chỉ trở thành nạn nhân của cơn sốt giáo dục sớm? Cuộc đua đầy cạnh tranh Sinh ra và lớn lên tại Singapore, chị Lim từng cho rằng hệ thống giáo dục quê nhà vốn đã rất cạnh tranh. Nhưng suy nghĩ ấy nhanh chóng thay đổi khi gia đình chuyển đến Hồng Kông (Trung Quốc) vào tháng 2/2025. Tại đây, chị tìm cách đăng ký cho con gái 18 tháng tuổi vào mẫu giáo và lập tức đối mặt với những yêu cầu tuyển sinh khắt khe, trong đó đáng chú ý nhất là mô hình “phỏng vấn tuyển sinh cho trẻ mẫu giáo” dù thí sinh chưa tròn 2 tuổi. “Tôi không biết trẻ nhỏ như vậy cũng có thể phải phỏng vấn....
 Nhật Bản đạt mục tiêu quốc tế hóa giáo dục sớm 8 năm

Nhật Bản đạt mục tiêu quốc tế hóa giáo dục sớm 8 năm

calendar-icon 04/03/26 12:00
Theo Giáo dục thời đại - Nhật Bản chính thức chạm mốc 435 nghìn sinh viên quốc tế, vượt mục tiêu 400 nghìn sinh viên sớm hơn 8 năm so với kế hoạch đề ra cho năm 2033. Du học sinh trở thành lực lượng lao động thiết yếu tại Nhật Bản. Trong hơn 15 năm qua, Nhật Bản đã kiên trì theo đuổi chiến lược quốc tế hóa giáo dục với cách tiếp cận đa chiều như nới lỏng giới hạn tuyển sinh, mở rộng chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh, tăng cường thu hút nhà nghiên cứu quốc tế và quảng bá hình ảnh điểm đến du học. Thành quả hiện tại chủ yếu đến từ làn sóng sinh viên Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, Nepal và gần đây là Myanmar. Mục tiêu tổng thể của chương trình không chỉ dừng ở việc thu hút 400 nghìn sinh viên quốc tế, mà còn hướng tới việc đưa 500 nghìn sinh viên Nhật Bản ra nước ngoài vào năm 2033. Trong bối cảnh số lượng học sinh tốt nghiệp trung học trong nước sụt giảm mạnh, quốc tế hóa trở thành một...