Nghị quyết 57 và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Vẫn mắc kẹt ở điểm nghẽn thể chế

calendar-icon 04/02/26 09:33
Tác giả: Hà Nguyên

Theo Giáo dục thời đại - Mô hình hợp tác Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp được kỳ vọng tạo động lực cho đổi mới sáng tạo và chuyển giao tri thức trong giáo dục đại học.

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) tiếp nhận thiết bị phòng thực hành do doanh nghiệp tài trợ. Ảnh: NTCC

Tuy nhiên, thực tế cho thấy liên kết này vẫn chưa vận hành hiệu quả, khi nhiều rào cản về thể chế, cơ chế tài chính và quản trị tiếp tục kìm hãm quá trình đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

Chưa hình thành chuỗi giá trị

Những năm gần đây, nhiều trường đại học chủ động mở rộng hợp tác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đại học Đà Nẵng là một trong những đơn vị sớm xác lập định hướng phát triển dựa trên hợp tác, với bốn trục chính: liên kết với trường phổ thông để nâng cao chất lượng đầu vào; đẩy mạnh hợp tác doanh nghiệp gắn đào tạo với nhu cầu xã hội; mở rộng hợp tác quốc tế để gia tăng nguồn lực; tăng cường quan hệ với các bộ, ngành, địa phương trong nghiên cứu, tư vấn và phản biện chính sách.

Ở lĩnh vực hợp tác doanh nghiệp, nhiều tập đoàn công nghệ lớn như Fujikin, FPT Software, COGNEX, Synopsys đã tài trợ và đồng hành cùng Đại học Đà Nẵng trong xây dựng các phòng thí nghiệm, không gian nghiên cứu. Riêng năm 2024, tổng kinh phí từ các hợp đồng chuyển giao công nghệ và tư vấn của Đại học Đà Nẵng đạt gần 100 tỷ đồng, cho thấy tiềm năng lớn từ hợp tác nghiên cứu – ứng dụng.

Năm 2025, Đại học Quốc gia TPHCM ký kết hợp tác với 16 doanh nghiệp và hai liên minh doanh nghiệp, trong đó có các tập đoàn lớn ở nhiều lĩnh vực. Hợp tác được cụ thể hóa thông qua các đề tài, dự án nghiên cứu và chương trình hỗ trợ đào tạo.

Ngoài ra, đơn vị phối hợp với tám địa phương tổ chức các hội thảo thúc đẩy hợp tác “3 nhà”, đồng thời ký các thỏa thuận hợp tác ba bên. Trước đó, năm 2024, Đại học Quốc gia TPHCM dẫn đầu cả nước với gần 3.200 công bố quốc tế; doanh thu dịch vụ khoa học - công nghệ đạt gần 295 tỷ đồng/năm, trong đó Trường Đại học Bách khoa và Viện Môi trường - Tài nguyên chiếm hơn 90% tổng giá trị.

Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra toàn hệ thống giáo dục đại học, bức tranh hợp tác “ba nhà” vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Hơn 10 năm qua, cả nước có hơn 200 trường đại học, học viện ký kết hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo, thực tập và nghiên cứu ứng dụng, nhưng chỉ khoảng 15% chương trình đào tạo có sự tham gia của doanh nghiệp trong thiết kế học phần. Phần lớn liên kết vẫn mang tính hình thức, thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích và khung pháp lý dài hạn.

Thực trạng này dẫn tới một nghịch lý phổ biến: số lượng thỏa thuận hợp tác ngày càng tăng, nhưng nghiên cứu và chuyển giao vẫn rời rạc. Nhiều đề tài có tiềm năng ứng dụng nhưng không tìm được đầu ra; doanh nghiệp thường chỉ tham gia ở khâu cuối, trong khi nhà trường thiếu động lực và công cụ để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Chuỗi giá trị từ ý tưởng - nghiên cứu - thử nghiệm - sản xuất - thị trường vì thế bị đứt gãy.

Ảnh minh họa INT.

Điểm nghẽn từ cơ chế đặt hàng và tư duy quản lý

Một trong những nguyên nhân khiến mô hình Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp chưa phát huy hiệu quả nằm ở cơ chế đề xuất và đặt hàng nhiệm vụ khoa học.

PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay trong hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ là khâu đề xuất và đặt hàng nhiệm vụ khoa học. Trên thực tế, nhiều đề tài ban đầu có ý tưởng tốt, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, nhưng sau nhiều vòng xét duyệt, tuyển chọn, sản phẩm cuối cùng lại bị thay đổi mục tiêu, thậm chí không còn gắn với ý tưởng ban đầu, làm giảm hiệu quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng.

Theo PGS.TS Võ Văn Minh, với các nhiệm vụ khoa học cấp quốc gia và địa phương, cơ quan quản lý cần chuyển trọng tâm từ quy trình sang kết quả, coi khâu đặt hàng là yếu tố quyết định. Chỉ nên đặt hàng những nhiệm vụ có sản phẩm cụ thể, địa chỉ ứng dụng rõ ràng và gắn trực tiếp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Để làm được điều này, cần mạnh dạn cắt giảm các khâu trung gian không cần thiết, đồng thời đổi mới cách phân bổ nguồn lực theo hướng đầu tư trực tiếp cho các trường đại học. Khi đó, kinh phí được chuyển thẳng đến các nhóm nghiên cứu, bảo đảm sát yêu cầu về cấp độ và tiến độ thực hiện, hạn chế tình trạng chia nhỏ nguồn lực qua nhiều tầng nấc quản lý.

PGS.TS Nguyễn Lê Hùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) nêu quan điểm, để hợp tác “ba nhà” đi vào thực chất, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng khuyến khích cộng sinh giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Trước hết, cần có cơ chế đột phá cho phép hình thành các trung tâm R&D, công ty spin-off, start-up do trường đại học và doanh nghiệp đồng sở hữu, đặt ngay trong khuôn viên trường. Các mô hình này cần được hưởng chính sách ưu đãi đặc thù về thuế, tài chính và thủ tục hành chính nhằm tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả khoa học.

Cùng đó, PGS.TS Nguyễn Lê Hùng đề xuất phát triển mô hình “giảng viên doanh nhân” và “chuyên gia doanh nghiệp”, với chính sách đủ mạnh để thu hút nhà khoa học, chuyên gia giỏi từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại trường theo cơ chế giảng viên đồng cơ hữu như Nghị quyết đã nêu; đồng thời khuyến khích giảng viên đại học tham gia sâu vào các dự án thực tế tại doanh nghiệp, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo, nghiên cứu và sản xuất.

Ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần đóng vai trò “nhạc trưởng”, sử dụng đầu tư công để dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực tư nhân. Việc tập trung ngân sách cho các dự án hạ tầng nghiên cứu dùng chung mang tầm quốc gia hoặc khu vực, đặt tại các trường đại học trọng điểm, sẽ tạo nền tảng đủ mạnh để doanh nghiệp cùng tham gia khai thác, đầu tư và phát triển, hình thành chuỗi giá trị nghiên cứu – chuyển giao – ứng dụng bền vững.

PGS.TS Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng), đề xuất đổi mới mô hình quản lý ngân sách Nhà nước cho khoa học và công nghệ, đặc biệt đối với các nhiệm vụ mang tính đột phá, theo cách tiếp cận của doanh nghiệp. Theo đó, khi doanh nghiệp đặt hàng, yêu cầu về sản phẩm, tiêu chí đánh giá và tiến độ thực hiện đều được xác định rõ ràng, qua đó thúc đẩy nghiên cứu bám sát thực tiễn và nhanh chóng được đưa vào ứng dụng.

Bài viết liên quan

Thay đổi cơ chế lương, phụ cấp với giáo viên hợp đồng

Thay đổi cơ chế lương, phụ cấp với giáo viên hợp đồng

calendar-icon 11/02/26 10:08
Theo Giáo dục thời đại - Luật Nhà giáo có hiệu lực từ năm 2026 mở ra nhiều kỳ vọng về việc cải thiện thu nhập và chế độ đãi ngộ cho đội ngũ giáo viên, trong đó có giáo viên hợp đồng tại các trường công lập. Cô trò Trường THCS Đống Đa (TP Hà Nội). Ảnh: Xuân Phú Những điều chỉnh về tiền lương, phụ cấp và cơ chế trả lương theo vị trí việc làm được đánh giá là bước chuyển quan trọng, giúp thu hẹp khoảng cách giữa giáo viên biên chế và giáo viên hợp đồng. Thay đổi mang tính đột phá Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, giáo viên hợp đồng đang đóng vai trò quan trọng trong việc bù đắp tình trạng thiếu hụt nhân sự tại các cơ sở giáo dục công lập. Bà Phan Thị Hằng Hải - Hiệu trưởng Trường THPT Kim Ngọc (Phú Thọ) cho biết, hiện nhà trường có 7 giáo viên làm việc theo hình thức hợp đồng theo Nghị định 111/2022/NĐ-CP. Hằng tháng, các thầy cô được chi trả thu nhập dựa trên mức lương cơ sở nhân với hệ số lương, kèm phụ...
Phân luồng sau THCS tại Hà Nội: Khi trường nghề chưa đủ sức hút

Phân luồng sau THCS tại Hà Nội: Khi trường nghề chưa đủ sức hút

calendar-icon 30/03/26 15:04
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Chính sách phân luồng học sinh sau THCS tại Hà Nội đã được triển khai nhiều năm, song thực tế cho thấy hiệu quả vẫn chưa đạt kỳ vọng khi phần lớn học sinh tiếp tục dồn vào kỳ thi lớp 10 công lập, trong khi giáo dục nghề nghiệp chưa thực sự thu hút. Theo số liệu của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, mỗi năm thành phố có khoảng 130.000 học sinh tốt nghiệp THCS, nhưng chỉ khoảng 15–16% lựa chọn học nghề, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 40% theo định hướng của Chính phủ. Trong khi đó, áp lực vào lớp 10 ngày càng gia tăng, với khoảng 60.000 học sinh không có suất vào trường công lập trong năm 2026. Thực tế này cho thấy sự mất cân đối trong phân luồng. Dù có nhiều lựa chọn sau THCS như học THPT tư thục, giáo dục nghề nghiệp hoặc các chương trình quốc tế, phần lớn học sinh và phụ huynh vẫn ưu tiên con đường vào trường công lập. Điều này khiến kỳ thi lớp 10 trở thành “điểm nghẽn” với áp lực cạnh...
Sử dụng thống nhất một bộ SGK: Cơ hội chuẩn hóa

Sử dụng thống nhất một bộ SGK: Cơ hội chuẩn hóa

calendar-icon 12/12/25 16:55
Theo Giáo dục thời đại - Ngày 10/12, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, với điểm nhấn là: Cả nước sẽ sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa. Ảnh minh họa INT. Quy định này đánh dấu bước ngoặt lớn trong chính sách giáo dục, khắc phục hạn chế mô hình một chương trình, nhiều bộ sách. Cùng ngày, Quốc hội cũng thông qua Nghị quyết “Về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”. Theo Nghị quyết này, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quyết định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc, thực hiện từ năm học 2026-2027. Trên thực tế, mô hình một bộ sách giáo khoa thống nhất trên toàn quốc không chỉ mang tính kỹ thuật, mà còn phản ánh những yêu cầu cấp bách của thực tiễn. Qua quá trình triển khai Chương trình GDPT 2018 cho thấy sự chênh lệch về chất lượng giữa các bộ sách; sự lúng túng của giáo viên trong lựa chọn; sự thiếu thống nhất...