Khối ngành khoa học sức khỏe: Nhiều nỗi lo khi chọn trường

calendar-icon 12/03/26 14:33
Tác giả: Lâm Ngọc

Theo Giáo dục thời đại - Nhiều gia đình mong muốn con em theo học các ngành thuộc nhóm Y Dược, song việc lựa chọn cơ sở đào tạo lại trở thành nỗi băn khoăn lớn. 

Sinh viên Y khoa Trường Đại học Tân Tạo thực tập tại bệnh viện. Ảnh: BVĐHYTT

Khi ngày càng nhiều trường đại học đa ngành mở thêm chương trình đào tạo lĩnh vực khoa học sức khỏe bên cạnh các trường chuyên ngành truyền thống, bức tranh tuyển sinh trở nên đa dạng hơn nhưng cũng khiến phụ huynh và học sinh thêm nhiều trăn trở.

Phân vân trước ngưỡng cửa chọn nghề

N.M.H., học sinh lớp 12 tại một trường THPT ở TPHCM, cho biết em luôn ấp ủ ước mơ theo đuổi ngành Y khoa. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của H., điểm chuẩn vào các trường công lập đào tạo ngành này như Trường Đại học Y Dược TPHCM hay Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch nhiều năm qua luôn ở mức rất cao. “Khi thấy một số trường đa ngành ngoài công lập mở ngành Y khoa với điểm chuẩn thấp hơn, em rất vui vì có thêm cơ hội lựa chọn. Nhưng em cũng băn khoăn không biết sau khi tốt nghiệp liệu có dễ tìm việc hay không”, H. chia sẻ.

Thực tế, nỗi lo của H. không phải là trường hợp cá biệt. L.T.T., sinh viên năm 3 ngành Dược học tại một trường đại học đa ngành ở TPHCM, cho biết em thường nghe bạn bè nhắc đến sự khác biệt trong cơ hội thực tập giữa sinh viên các trường chuyên ngành và sinh viên học tại trường đa ngành.

Theo T., nhiều sinh viên ở các trường chuyên về Y Dược có điều kiện thực tập tại những bệnh viện lớn, nơi có lượng bệnh nhân đông, trong khi sinh viên của trường em chủ yếu thực hành trong các phòng thí nghiệm của trường. “Điều đó khiến em khá hoang mang, đôi lúc còn nghĩ đến việc dừng việc học để ôn thi lại”, T. tâm sự.

Không chỉ học sinh, sinh viên, nhiều phụ huynh cũng chung tâm trạng băn khoăn khi con em muốn theo học khối ngành sức khỏe. Chị Hoàng Anh, ngụ phường An Nhơn, TPHCM, cho biết gia đình luôn ủng hộ con theo đuổi nghề y. Tuy nhiên, càng tìm hiểu thông tin tuyển sinh, chị càng cảm thấy khó đưa ra quyết định.

Theo chị, một bên là các trường công lập có uy tín như Trường Đại học Y Dược TPHCM và Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch với điểm chuẩn đầu vào luôn ở mức rất cao, khiến ngay cả những học sinh học lực giỏi cũng chưa chắc nắm chắc cơ hội trúng tuyển. Trong khi đó, một lựa chọn khác là các trường đại học đa ngành có đào tạo nhóm ngành Khoa học sức khỏe với mức điểm chuẩn “dễ thở” hơn, nhưng lại khiến nhiều gia đình băn khoăn về chất lượng đào tạo cũng như cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.

PGS.TS.BS Nguyễn Trọng Hào - Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, cho rằng việc các trường đại học đa ngành mở thêm ngành Y Dược là xu hướng xuất phát từ nhu cầu thực tế, nhằm đáp ứng tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế đang gia tăng. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh đây là lĩnh vực đào tạo đặc thù, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người, vì vậy, các chuẩn mực về đào tạo phải được đặt ra hết sức nghiêm ngặt.

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Trọng Hào, đào tạo nhóm ngành Y Dược không thể tách rời thực hành lâm sàng tại các bệnh viện, đồng thời cần có đội ngũ giảng viên cơ hữu giàu kinh nghiệm. Việc xây dựng hệ thống cơ sở thực hành đạt chuẩn đòi hỏi thời gian dài và sự đầu tư bài bản, không thể hình thành trong một sớm một chiều. Bên cạnh đó, quá trình đào tạo cũng không thể phụ thuộc quá nhiều vào đội ngũ giảng viên thỉnh giảng khi thiếu một hệ sinh thái đào tạo ổn định và đồng bộ.

Ở khâu tuyển sinh đầu vào, ông cho rằng, điểm số tuy không phản ánh toàn diện năng lực của thí sinh, nhưng đối với ngành Y khoa nói riêng và khối ngành Khoa học sức khỏe nói chung, ngưỡng tuyển sinh cần được duy trì ở mức đủ cao. Điều này nhằm đảm bảo người học có nền tảng kiến thức vững chắc cũng như khả năng theo đuổi quá trình học tập kéo dài và áp lực. Biên độ điểm chuẩn khối ngành Y Dược giữa các trường quá rộng - thường dao động khoảng từ 16 đến 29 điểm - là vấn đề cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc.

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Trọng Hào, nếu không có cơ chế kiểm soát và bảo đảm chất lượng đào tạo một cách thống nhất, trong vòng 5 - 10 năm tới hệ thống y tế có thể phải đối mặt với nhiều hệ lụy. Cụ thể, khoảng cách về năng lực chuyên môn giữa các cơ sở y tế có nguy cơ ngày càng gia tăng, đặc biệt ở tuyến cơ sở; niềm tin của người dân đối với hệ thống y tế có thể bị ảnh hưởng nếu xảy ra các sai sót chuyên môn; đồng thời Nhà nước và xã hội sẽ phải tốn kém thêm chi phí để đào tạo lại nguồn nhân lực sau khi tốt nghiệp.


Tân sinh viên Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch nhập học năm 2025. Ảnh: PNTU

Thị trường lao động sẽ sàng lọc

Dưới góc nhìn của chuyên gia về nguồn nhân lực, ông Trần Anh Tuấn - Phó Chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TPHCM, nhận định vấn đề đào tạo các ngành Y Dược hiện nay không chỉ liên quan đến chất lượng đào tạo, mà còn tác động trực tiếp đến giá trị bằng cấp và cấu trúc nguồn nhân lực của quốc gia.

Theo ông Tuấn, xu hướng tuyển dụng trong lĩnh vực y tế đang dần dịch chuyển từ việc chú trọng tên tuổi trường đào tạo sang đánh giá năng lực thực hành thực tế của ứng viên. Tuy vậy, trên thực tế vẫn tồn tại những mức độ phân biệt nhất định từ phía nhà tuyển dụng.

Đối với các bệnh viện, đặc biệt những cơ sở y tế lớn, quá trình tuyển dụng thường đi kèm sự xem xét kỹ lưỡng về điều kiện thực hành lâm sàng của sinh viên trong quá trình học tập. Những yếu tố như chất lượng giảng viên hướng dẫn, môi trường thực hành và mức độ tiếp xúc với các ca bệnh thực trong suốt 6 năm đào tạo đều được đánh giá cẩn trọng. Trong bối cảnh đó, nhà tuyển dụng ngày càng đề cao kỹ năng thao tác thực tế, thái độ nghề nghiệp cũng như yếu tố an toàn đối với người bệnh.

Một hệ lụy khác được ông Tuấn cảnh báo là nguy cơ “vừa thừa vừa thiếu” nguồn nhân lực khối ngành Y Dược. Việc hạ thấp điểm chuẩn đầu vào để mở rộng quy mô tuyển sinh có thể dẫn đến tình trạng nhiều người có bằng cấp nhưng không đáp ứng được yêu cầu nghề nghiệp. Hệ quả là thị trường lao động xuất hiện tình trạng dư thừa nhân lực có trình độ thấp, trong khi lại thiếu hụt những chuyên gia có tay nghề cao, gây lãng phí nguồn lực xã hội và ảnh hưởng đến chiến lược phát triển nhân lực y tế bền vững.

Bên cạnh đó, thị trường lao động trong lĩnh vực y tế cũng đang hình thành cơ chế sàng lọc tự nhiên. Nhiều cơ sở y tế đã áp dụng quy trình tuyển dụng nghiêm ngặt hơn, như kiểm tra trực tiếp kỹ năng thực hành, phỏng vấn xử lý tình huống lâm sàng hoặc kéo dài thời gian thử việc. Những bước đánh giá này nhằm loại bỏ sớm các ứng viên không đạt yêu cầu. Điều này đồng nghĩa với việc những sinh viên tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo có điểm chuẩn thấp sẽ phải đối mặt với nhiều rào cản hơn khi bước vào thị trường lao động chất lượng cao.

“Đào tạo ngành Y khoa không phải là đào tạo đại trà. Khi trao cho một người tấm bằng bác sĩ cũng đồng nghĩa với việc trao cho họ quyền can thiệp trực tiếp vào sức khỏe và sự sống của con người. Vì vậy, việc nâng cao ngưỡng đầu vào cũng như tăng cường kiểm định chất lượng đào tạo là yêu cầu bắt buộc để bảo đảm sự phát triển bền vững của ngành y tế”, PGS.TS.BS Nguyễn Trọng Hào cho biết.

Bài viết liên quan

Hoàn thành chu kỳ triển khai CTGDPT 2018: Nền tảng nâng chất lượng giáo dục

Hoàn thành chu kỳ triển khai CTGDPT 2018: Nền tảng nâng chất lượng giáo dục

calendar-icon 05/01/26 09:18
Theo Giáo dục thời đại - Hoàn thành lộ trình triển khai cuốn chiếu, Chương trình GDPT 2018 tạo chuyển dịch căn bản từ dạy học truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học. Cô và trò Trường Tiểu học Thịnh Liệt (phường Hoàng Mai, Hà Nội). Ảnh: Việt Cường Thực tiễn triển khai tại nhiều địa phương cho thấy những chuyển biến tích cực, song cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn để đáp ứng bối cảnh chuyển đổi số và giáo dục hiện đại. Thành công thay đổi tư duy giáo dục Thầy Vũ Ngọc Hòa - giáo viên Trường THPT Ngô Quyền (Biên Hòa, Đồng Nai) đánh giá, việc hoàn thành chu kỳ triển khai cuốn chiếu Chương trình GDPT 2018 đánh dấu bước chuyển chiến lược của giáo dục Việt Nam, từ mô hình tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Qua thực tiễn giảng dạy, đặc biệt với môn Toán, đội ngũ giáo viên đã nhận diện rõ nét thành tựu đột phá và khó khăn cần được tháo gỡ trong giai đoạn tiếp theo. Về mặt tích...
Huế sẵn sàng cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 với hơn 14.000 thí sinh dự thi

Huế sẵn sàng cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 với hơn 14.000 thí sinh dự thi

calendar-icon 10/06/26 13:55
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Sáng 9/6, Phó Chủ tịch UBND thành phố Huế, Trưởng Ban Chỉ đạo Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 Nguyễn Văn Mạnh đã đi kiểm tra công tác chuẩn bị tổ chức kỳ thi tại một số điểm thi trên địa bàn thành phố. Cùng tham gia đoàn kiểm tra có lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Huế. Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Văn Mạnh kiểm tra công tác tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 tại Trường THPT Phan Đăng Lưu Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 10 đến 12/6. Toàn thành phố có hơn 14.000 thí sinh đăng ký dự thi, được bố trí tại 37 điểm thi với 622 phòng thi. Hơn 2.500 cán bộ, giáo viên, nhân viên cùng các lực lượng công an, y tế, điện lực được huy động tham gia phục vụ kỳ thi. Đoàn công tác đã trực tiếp kiểm tra công tác chuẩn bị tại các điểm thi gồm Trường THPT Gia Hội, Trường THCS Phú Thượng và Trường THPT Phan Đăng Lưu. Nội dung kiểm tra tập trung...
TP.HCM tăng gần 100.000 học sinh trong năm học 2026-2027

TP.HCM tăng gần 100.000 học sinh trong năm học 2026-2027

calendar-icon 04/09/26 13:48
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Năm học 2026-2027, TP.HCM dự kiến có hơn 2,6 triệu học sinh, tăng gần 100.000 em so với năm trước. Quy mô mới đặt ra yêu cầu thành phố phải đồng thời giải bài toán trường lớp, giáo viên và đổi mới quản trị giáo dục. Theo Sở GD&ĐT TP.HCM, năm học này toàn thành phố dự kiến có 2.621.038 học sinh, tăng 96.258 em. Mức tăng tập trung nhiều nhất ở bậc mầm non với gần 47.000 trẻ; tiếp đến là THPT tăng hơn 22.000, THCS gần 15.000 và tiểu học gần 12.000 học sinh. Để đáp ứng nhu cầu chỗ học, TP.HCM đã triển khai chiến dịch “150 ngày đêm hoàn thành 1.000 phòng học”. Đến ngày 19/8, 49/53 dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng 930 phòng học. Các dự án còn lại được yêu cầu hoàn thành trước ngày khai giảng. Tuy nhiên, việc tăng số phòng học mới chỉ giải quyết một phần nhu cầu trước mắt. Khi số học sinh tăng nhanh, thành phố còn phải tính toán lại việc bố trí giáo viên, sĩ số lớp và phân bổ nguồn lực giữa các khu...