Giáo dục đại học Việt Nam: Đường tới tốp 100 thế giới

calendar-icon 16/03/26 10:02
Tác giả: Minh Phong

Theo Giáo dục thời đại - Lần đầu tiên, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 có từ 1-2 trường đại học lọt vào top 100 thế giới và 8 trường nằm trong top 200 châu Á. 

Đây được xem là định hướng chiến lược nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học, góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

Đổi mới tư duy và hành động

Với xuất phát điểm về xếp hạng của các trường đại học Việt Nam hiện nay, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Chủ tịch Câu lạc bộ Mạng lưới bảo đảm chất lượng giáo dục đại học Việt Nam - nhận định, mục tiêu có trường lọt top 100 thế giới là thách thức lớn, không dễ đạt trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, đây cũng là động lực đòi hỏi giáo dục đại học phải đổi mới tư duy đầu tư, hoàn thiện cơ chế chính sách và thúc đẩy những hành động mang tính đột phá để tạo bước chuyển thực chất.

Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, trước hết cần ưu tiên phát triển tiềm lực khoa học - công nghệ trong các trường đại học, coi đây là yếu tố then chốt quyết định vị thế xếp hạng. Muốn vươn lên, các cơ sở giáo dục đại học phải xây dựng được đội ngũ giảng viên chất lượng cao, có năng lực nghiên cứu xuất sắc, khả năng đổi mới sáng tạo và gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội.

Bên cạnh đó, việc đầu tư cơ sở vật chất và hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại cũng đóng vai trò quan trọng. Những trường có thế mạnh về khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ được đánh giá có lợi thế hơn trong quá trình cải thiện thứ hạng. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế linh hoạt để thu hút nhân tài, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo nền tảng cho những thành tựu khoa học có giá trị quốc tế.

Một yếu tố then chốt khác là đổi mới quản trị đại học theo hướng tự chủ toàn diện. GS.TSKH Nguyễn Đình Đức dẫn kinh nghiệm của Nhật Bản từ năm 2004 cho thấy, khi thực hiện tự chủ, số trường đại học lọt top 100 thế giới đã tăng nhanh, kể cả ở khối ngoài công lập.

Theo ông, tự chủ đại học không chỉ là cơ chế vận hành mà còn là nguồn lực quan trọng, có thể tạo ra hiệu quả mạnh mẽ, thậm chí nhanh hơn cả đầu tư tài chính trực tiếp. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo được xem là bước đi mang tính “cơ chế” tương tự những cải cách lớn trước đây trong các lĩnh vực khác.

Từ định hướng của Nghị quyết, việc ưu tiên phát triển các trường đại học theo mô hình đổi mới sáng tạo và công nghệ hiện đại, đồng thời nâng tỷ lệ đào tạo các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ lên khoảng 35% tổng quy mô đào tạo, được đánh giá phù hợp với xu thế phát triển và yêu cầu cạnh tranh trong giai đoạn mới.

Giờ thực hành của sinh viên Trường Đại học Việt Nhật (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NTCC

5 đột phá

Đề cập đến nội dung này, PGS.TS Hoàng Minh Sơn - Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội - nhấn mạnh, để giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á và từng bước vươn lên nhóm hàng đầu thế giới, hệ thống giáo dục cần bảo đảm các tiêu chí cốt lõi như công bằng, bao trùm, hiện đại, chất lượng và đáp ứng các chuẩn đối sánh quốc tế. Nghị quyết 71 đã đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mang tính toàn diện, chiến lược nhằm hiện thực hóa mục tiêu này, tập trung vào ba yếu tố then chốt: nguồn lực, động lực và không gian phát triển.

Theo đó, đột phá giáo dục và đào tạo phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, nhận thức và thể chế, qua đó tạo bước chuyển mạnh về nguồn lực. PGS.TS Hoàng Minh Sơn cho rằng cần ưu tiên các giải pháp thu hút, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực để phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục, hiện đại hóa cơ sở vật chất, xây dựng đội ngũ nhà giáo đạt chuẩn và tăng cường hỗ trợ người học, bảo đảm không có học sinh, sinh viên phải bỏ học vì khó khăn tài chính.

Về động lực phát triển, ông nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích đội ngũ nhà giáo phát huy năng lực, người học chủ động nghiên cứu và sáng tạo; đồng thời tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy đổi mới trong các cơ sở giáo dục và huy động sự tham gia của toàn xã hội trong đầu tư, hỗ trợ giáo dục.

Đối với không gian phát triển, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, mở rộng hành lang pháp lý và thúc đẩy tự chủ đại học một cách toàn diện; đồng thời quy hoạch, sắp xếp lại mạng lưới trường lớp theo hướng tối ưu, mở rộng hạ tầng và đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo, lớp học thông minh… nhằm tạo môi trường học thuật liêm chính, thúc đẩy đổi mới sáng tạo cho cả nhà giáo và người học.

Tuy vậy, theo PGS.TS Hoàng Minh Sơn, yếu tố quyết định vẫn là sự tham gia chủ động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội để tạo sức mạnh tổng hợp về nguồn lực, động lực và không gian phát triển. Nghị quyết 71 đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất một trường đại học Việt Nam lọt top 100 thế giới, đến năm 2045 có khoảng 5 trường đạt thứ hạng này; đồng thời ưu tiên đầu tư và xây dựng 3 - 5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW nhằm tạo đột phá về thể chế, chính sách và nguồn lực cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; trong đó xác định các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò nòng cốt trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Theo PGS.TS Hoàng Minh Sơn, mô hình đại học đẳng cấp thế giới đã được triển khai tại nhiều quốc gia với cả thành công và hạn chế. Tuy nhiên, các chuyên gia quốc tế đều chỉ ra ba yếu tố cốt lõi làm nên thành công của một đại học đẳng cấp thế giới gồm: nguồn lực dồi dào, quản trị hiệu quả và sự hội tụ của đội ngũ nhân tài. Những yếu tố này tương đồng với ba trụ cột về nguồn lực, động lực và không gian phát triển đã được xác định cho hệ thống giáo dục Việt Nam.

Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, để đạt mục tiêu phát triển giáo dục đại học, cần triển khai 5 đột phá trọng tâm.

Trước hết là bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính; bao gồm quyền chủ động trong quy trình xét chọn, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, cán bộ quản lý chuyên môn, cũng như tuyển dụng và thuê giảng viên quốc tế.

Thứ hai, đổi mới cơ chế đầu tư và phân bổ nguồn lực theo sứ mạng, chất lượng và hiệu quả hoạt động; ưu tiên nguồn lực cho các ngành khoa học, công nghệ trọng điểm tại những đại học có năng lực và uy tín cao.

Thứ ba, xây dựng chính sách thu hút, hỗ trợ đội ngũ giảng viên giỏi từ nước ngoài; đồng thời gắn kết đào tạo nhân tài, đào tạo tiến sĩ với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, tăng cường hợp tác giữa các cơ sở giáo dục đại học theo ngành, lĩnh vực; mở rộng liên kết với doanh nghiệp và hợp tác quốc tế theo mô hình “3 nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực và giải quyết các vấn đề lớn của đất nước.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong quản trị đại học, đào tạo và nghiên cứu, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học.


Giờ học trên giảng đường của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: NTCC

“Chìa khóa” mở cửa tương lai

Tại Tọa đàm “80 năm thành tựu giáo dục và dấu ấn lập pháp” do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức, ông Đồng Ngọc Ba - đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Tư pháp và Pháp luật - cho biết, Kỳ họp thứ 9 và 10 Quốc hội khóa XV đã dành sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực giáo dục, tạo nên những dấu ấn lập pháp quan trọng, thiết lập cơ chế, chính sách ở tầm vĩ mô nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong thực tiễn.

Trong đó, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) được thông qua tại Kỳ họp thứ 10 được xem là bước hoàn thiện “chìa khóa” tự chủ, định hình mô hình quản trị hiện đại, tạo điều kiện để các trường đại học bứt phá trong đào tạo chuyên sâu và hội nhập quốc tế. Cùng với đó, Quốc hội cũng thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá giáo dục và phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035.

Theo ông Đồng Ngọc Ba, những quyết sách này không chỉ mang tính điều chỉnh kỹ thuật văn bản mà còn là cuộc cải cách sâu rộng, đồng bộ từ tư duy đến hành động, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong đổi mới cơ chế và ưu tiên nguồn lực cho phát triển giáo dục, đào tạo. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, lộ trình phát triển giáo dục Việt Nam được kỳ vọng sẽ tạo ra những tác động rõ rệt trong thời gian tới.

Về ngắn hạn, khi các chính sách đi vào cuộc sống sẽ góp phần ổn định và phát triển đội ngũ, trong đó có đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Ở trung hạn, các giải pháp như thúc đẩy tự chủ đại học, mở rộng giáo dục nghề nghiệp và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng khả năng thích ứng của hệ thống giáo dục với thị trường lao động và yêu cầu phát triển trong bối cảnh hội nhập.

Ở tầm nhìn dài hạn, ông Đồng Ngọc Ba cho rằng đây là “cơ hội lịch sử” để đưa giáo dục Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới. Một nền giáo dục vững chắc, gắn kết chặt chẽ với khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ trở thành nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, biến giáo dục thành động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy vậy, ông cũng nhấn mạnh, các quyết sách mới chỉ là điều kiện cần. Hiệu quả thực tế phụ thuộc vào quyết tâm chính trị, hướng dẫn triển khai cụ thể và hệ thống giám sát chặt chẽ. Nếu tận dụng tốt “cơ hội vàng” về thể chế, giáo dục sẽ thực hiện đúng vai trò là “chìa khóa” mở cửa tương lai, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Nếu các giải pháp căn cốt và cơ bản được triển khai đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả, Việt Nam hoàn toàn có thể đạt mục tiêu có cơ sở giáo dục đại học nằm trong top 100 trên các bảng xếp hạng đại học thế giới. - GS.TSKH Nguyễn Đình Đức.

Bài viết liên quan

Tăng tốc chuyển đổi số trong giáo dục

Tăng tốc chuyển đổi số trong giáo dục

calendar-icon 04/12/25 10:45
Theo Giáo dục thời đại - Hội nghị chuyển đổi số cho thấy những vấn đề cấp thiết và đề xuất giải pháp thúc đẩy giáo dục số trong giai đoạn mới. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc. Ngày 3 - 4/12, tại Đại học Kinh tế TPHCM, Bộ GD&ĐT tổ chức Hội nghị Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo, nhằm đánh giá kết quả triển khai giai đoạn 2022 - 2025, đồng thời thảo luận, đề xuất các giải pháp định hướng cho giai đoạn 2026 - 2030 . Hội nghị diễn ra trong bối cảnh ngành giáo dục bước vào giai đoạn tăng tốc mạnh mẽ về chuyển đổi số, khai thác dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc cho biết, sau ba năm triển khai Quyết định 131/QĐ-TTg, nhiều cơ sở giáo dục trên cả nước tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, giảng dạy và điều hành nhà trường, mang lại những kết quả bước đầu tích cực. Theo Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc, Bộ GD&ĐT cơ bản xây dựng...
Cần Thơ ký kết hợp tác với 6 trường đại học nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Cần Thơ ký kết hợp tác với 6 trường đại học nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

calendar-icon 27/11/25 08:30
Theo Thông Tấn Xã Việt Nam - Chiều 26/11, UBND thành phố Cần Thơ tổ chức Hội nghị ký kết hợp tác với 6 trường đại học trên địa bàn và khu vực lân cận. Đây là lần đầu tiên địa phương triển khai đồng thời mô hình hợp tác với các cơ sở giáo dục đại học trọng yếu, được đánh giá là bước đột phá quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hiện thực hóa mục tiêu đưa Cần Thơ trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo, y tế chuyên sâu của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Quang cảnh sự kiện. Ảnh: Ánh Tuyết - TTXVN Ông Trương Cảnh Tuyên, Chủ tịch UBND thành phố nhấn mạnh: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025–2030. Do đó, việc tiến hành đồng thời ký kết hợp tác với Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nam Cần Thơ, Trường Đại học Tây Đô và Trường...
 Chế độ làm việc giáo viên GD thường xuyên: Hoàn thiện pháp lý, khơi thông động lực

Chế độ làm việc giáo viên GD thường xuyên: Hoàn thiện pháp lý, khơi thông động lực

calendar-icon 26/02/26 17:50
Theo Giáo dục thời đại - Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 04/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giáo viên tại các cơ sở giáo dục thường xuyên (Thông tư 04). Đây là bước đi kịp thời, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, chuẩn hóa hoạt động và tháo gỡ nhiều vướng mắc trong công tác quản lý, phân công lao động sư phạm tại các đơn vị giáo dục thường xuyên. Tác động tích cực Khẳng định sự cần thiết của việc ban hành Thông tư 04, ông Trần Quang Tứ - Giám đốc Trung tâm GDTX - GDNN Ba Tri (Vĩnh Long), nhấn mạnh ý nghĩa hoàn thiện hành lang pháp lý trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Thông tư đã cụ thể hóa các quy định của luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong quản lý và tổ chức thực hiện; khắc phục những khoảng trống, chồng chéo, bất cập còn tồn tại ở những văn bản trước đây. Quy định mới đồng thời phù hợp với thực tiễn đổi mới giáo dục, tăng cường tính tự chủ, minh bạch và trách nhiệm của cơ sở giáo dục;...