Ban hành mới Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân

calendar-icon 04/03/26 11:40
Tác giả: Hải Bình

Theo Giáo dục thời đại - Bộ trưởng Bộ GD&ĐT công bố Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân.

Quy chế có 23 điều, với các điều khoản ngắn gọn, bao quát hơn nhưng rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm hơn và có nhiều điểm mới đáng chú ý; hiệu lực thi hành từ 15/4/2026

Thay thế toàn bộ quy định về văn bằng, chứng chỉ trước đây

Quy chế quy định chi tiết các nội dung mới về quản lý văn bằng, chứng chỉ được đề cập trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) và Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi).

Theo đó, những nội dung mới gồm: thay việc cấp bằng tốt nghiệp THCS bằng xác nhận hoàn thành chương trình THCS trong học bạ; giao hiệu trưởng cấp bằng tốt nghiệp THPT; bổ sung bằng trung học nghề; bổ sung hình thức văn bằng số, chứng chỉ số; đồng thời mở rộng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả VBCC của giáo dục nghề nghiệp.

Thông tư cũng thay thế toàn bộ các quy định về văn bằng, chứng chỉ trước đây được ban hành rải rác ở nhiều văn bản của Bộ GD&ĐT và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trước đây, tạo thuận lợi cho cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý và người học trong nghiên cứu, thực hiện.

Bổ sung quy định về văn bằng, chứng chỉ số, rút ngắn thời hạn cấp bằng tốt nghiệp THPT

Quy chế cũng thể chế hóa chủ trương chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục và đào tạo, đặc biệt trong công tác quản lý văn bằng, chứng chỉ.

Cụ thể, Quy chế bổ sung khái niệm văn bằng, chứng chỉ số; quy định việc cấp, lưu trữ, xử lý; cấp bản sao, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ số; quy định xây dựng, cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu (CSDL) văn bằng, chứng chỉ và danh mục các trường thông tin bắt buộc cập nhật.

Bộ GD&ĐT xây dựng CSDL văn bằng, chứng chỉ dùng chung toàn quốc để phục vụ cấp văn bằng, chứng chỉ số, lưu trữ dữ liệu đã cấp và công khai thông tin về cấp văn bằng, chứng chỉ.

Việc cập nhật, công khai thông tin được áp dụng cả với văn bằng, chứng chỉ đã cấp trước khi Thông tư có hiệu lực. Thông tin trích xuất từ CSDL có giá trị pháp lý như thông tin trong sổ gốc; thông tin tra cứu từ CSDL hoặc trên ứng dụng VNeID được sử dụng thay cho bản sao từ sổ gốc và có giá trị xác minh văn bằng, chứng chỉ.

Các quy định cũng yêu cầu cập nhật đầy đủ dữ liệu khi cấp, cấp lại, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ, bảo đảm nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, chia sẻ, dùng chung”. Toàn bộ Quy chế được xây dựng theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, triển khai văn bằng, chứng chỉ số đồng bộ với văn bằng, chứng chỉ giấy.

Thời hạn cấp bằng tốt nghiệp THPT (giấy) được rút ngắn từ 75 ngày xuống còn 30 ngày; thời hạn cấp văn bằng, chứng chỉ số là 5 ngày kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp.

Các thủ tục liên quan được quy định theo hướng cắt giảm giấy tờ, tăng khai thác và chia sẻ dữ liệu từ các CSDL liên quan; ưu tiên giải quyết trên môi trường điện tử; không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã có trên các hệ thống dữ liệu của cơ quan nhà nước.

Bỏ quy định Bộ GD&ĐT in phôi văn bằng, chứng chỉ

Quy chế thể chế hóa chủ trương tại Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục gắn với kiểm tra, giám sát hiệu quả.

Cụ thể, Quy chế phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân liên quan. Trong đó, Bộ GD&ĐT tập trung ban hành quy định, thực hiện quản lý Nhà nước theo pháp luật, không làm thay địa phương, cơ sở.

Bỏ quy định Bộ GD&ĐT in phôi văn bằng, chứng chỉ, phân cấp cho Sở GD&ĐT hoặc cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ (đối với văn bằng, chứng chỉ giấy).

Không quy định mẫu văn bằng đại học, giáo dục nghề nghiệp và mẫu chứng chỉ (chỉ quy định nội dung chính ghi trên văn bằng, chứng chỉ), trừ mẫu bằng tốt nghiệp THPT để bảo đảm thống nhất toàn quốc. Đồng thời không quy định mẫu sổ gốc, phụ lục sổ gốc, sổ cấp bản sao… mà chỉ quy định nội dung chính, nhằm tăng tính tự chủ cho cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ.

Bổ sung quy định giao cấp phó ký văn bằng, chứng chỉ

Quy chế bổ sung, điều chỉnh các quy định trên cơ sở tổng hợp những khó khăn, bất cập trong thực tiễn, bảo đảm tính hợp lý, khả thi và ưu tiên bảo đảm quyền lợi của người học. Bổ sung quy định giao cấp phó ký văn bằng, chứng chỉ; giao quyền ký bản sao văn bằng, chứng chỉ để giảm tải cho người đứng đầu; quy định các trường hợp đặc biệt khi cấp bản sao từ sổ gốc, cấp lại, chỉnh sửa nội dung, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ trong các tình huống như không còn sổ gốc, không còn người có thẩm quyền, hoặc khi cơ quan có thẩm quyền sáp nhập, chia tách, giải thể.

Đối với các vấn đề tồn đọng liên quan đến bằng tốt nghiệp THCS, giao Sở GD&ĐT xử lý; UBND cấp xã có trách nhiệm bàn giao sổ gốc cấp bằng và tài liệu liên quan về Sở GD&ĐT trước ngày 31/5/2026.

Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT được ban hành để thay thế cho Thông tư số 21/2019/TT-BGDĐT ngày 29/11/2019 của Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành Quy chế quản lý bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm, bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, văn bằng giáo dục đại học và chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân và một số văn bản khác.

Bài viết liên quan

An Giang có 180 học sinh tham dự kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT

An Giang có 180 học sinh tham dự kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT

calendar-icon 19/12/25 09:50
Theo Giáo dục thời đại - Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025 - 2026, tỉnh An Giang có tất cả 180 học sinh dự thi 9 môn thi. Lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo Sở GD&ĐT An Giang chụp ảnh lưu niệm cùng học sinh tham gia đội tuyển. Ngày 18/12, Sở GD&ĐT tỉnh An Giang tổ chức buổi họp mặt các đội tuyển dự thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025 - 2026. Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thị Minh Thúy đến dự họp mặt. Đại biểu dự buổi họp mặt. Học sinh các đội tuyển dự buổi họp mặt. Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025 – 2026, tỉnh An Giang có 180 học sinh thuộc 9 đội tuyển, mỗi đội tuyển 20 học sinh dự thi 9 môn: Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tin học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Tiếng Anh. Bà Nguyễn Thị Minh Thúy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang phát biểu tại buổi họp mặt. Phát biểu tại buổi họp mặt, bà Nguyễn Thị Minh Thúy, Phó Chủ tịch UBND...
Những nỗ lực thầm lặng nâng bước học sinh dân tộc thiểu số vùng khó

Những nỗ lực thầm lặng nâng bước học sinh dân tộc thiểu số vùng khó

calendar-icon 27/11/25 14:00
Theo Giáo dục thời đại - Những thay đổi trong cơ sở vật chất và dạy học giúp trường Tả Sử Choóng trở thành nơi nâng bước ước mơ cho học sinh dân tộc thiểu số.Niềm vui của các em học sinh tiểu học tại Trường PTDTBT TH & THCS Tả Sử Choóng khi được ăn bắp rang bơ. Ảnh: BCVNTrong những năm gần đây, việc đầu tư cho các trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT), trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) và các cơ sở có học sinh ở lại bán trú ngày càng được quan tâm sâu sắc.Đây không chỉ là nhiệm vụ chiến lược nhằm thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa miền núi - miền xuôi, mà còn góp phần tạo cơ hội học tập công bằng cho con em đồng bào dân tộc thiểu số.Những chủ trương đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng chuyển đổi số đang tạo ra bước chuyển biến rõ nét cho các nhà trường vùng khó, trong đó có Trường Phổ thông dân tộc bán trú TH & THCS Tả Sử Choóng (xã Nậm Dịch, tỉnh Tuyên Quang).Tập trung đầu tư và...
Phú Thọ đổi mới giáo dục rõ nét từ cơ sở

Phú Thọ đổi mới giáo dục rõ nét từ cơ sở

calendar-icon 21/01/26 10:17
Theo Giáo dục thời đại - Không còn là chủ trương, khẩu hiệu, những giải pháp đột phá về phát triển giáo dục ở Phú Thọ đã hiện hữu trong từng lớp học, bài giảng. Tỉnh Phú Thọ có 229 thí sinh đoạt giải Kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia THPT năm học 2025 - 2026. Đổi mới đi vào thực chất Tại tỉnh Phú Thọ, công tác GD&ĐT đạt nhiều kết quả ấn tượng. Quy mô trường, lớp được rà soát, sắp xếp hợp lý, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao. Sau sáp nhập, Phú Thọ đứng thứ 3/34 tỉnh, thành phố về số trường học, học sinh, giáo viên, với 1.957 cơ sở giáo dục, khoảng 1 triệu học sinh, sinh viên. Tỷ lệ kiên cố hóa trường, lớp đạt trên 90%; trường học đạt chuẩn Quốc gia đạt trên 83%. Chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn tiếp tục giữ vững, nâng cao. Bám sát các nghị quyết, đề án của Trung ương và của tỉnh về phát triển giáo dục và đào tạo, ngành Giáo dục Phú Thọ đã chủ động cụ thể hóa bằng những kế hoạch, lộ...