Xây dựng văn hoá ứng xử số để học sinh trở thành ‘công dân số có trách nhiệm’

calendar-icon 06/12/25 08:22
Tác giả: Lê Trang

Theo Giáo dục thời đại - Trong kỷ nguyên số, sự bùng nổ của công nghệ và mạng xã hội đặt ra nhiều thách thức về ứng xử trên không gian mạng đối với học sinh, sinh viên.

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Lê Quân và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Võ Ngọc Hiệp đồng chủ trì hội nghị.

Ngày 5/12, tại tỉnh Lâm Đồng, Bộ GD&ĐT tổ chức nghị tổng kết 8 năm thực hiện Đề án xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học (2018–2025). Đồng thời, sơ kết 3 năm triển khai Chỉ thị 08/CT-TTg về xây dựng văn hóa học đường và Chương trình giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho thanh, thiếu niên, nhi đồng (2021–2030).

Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại điểm cầu tỉnh Lâm Đồng và trực tuyến tới 33 tỉnh thành trên cả nước.

Học sinh, sinh viên và những thách thức trên không gian mạng

Tại hội nghị, việc xây dựng văn hóa ứng xử số cho học sinh, sinh viên (HSSV) trong môi trường giáo dục được nhiều đại biểu quan tâm.

Nhiều đại biểu nhận định, mạng xã hội đang trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống học đường. Giáo viên dùng mạng để trao đổi chuyên môn, phụ huynh tương tác với nhà trường qua các nhóm trực tuyến, còn HSSV xem đây như “không gian sinh hoạt” chủ đạo. Tiện ích của các ứng dụng là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, mặt trái của chúng cũng rõ ràng và ngày một phức tạp.

Toàn cảnh hội nghị.

Những thách thức trên mạng không chỉ là lừa đảo, thông tin giả, mà còn là các biểu hiện lệch chuẩn hành vi, bạo lực tinh thần, công kích cá nhân… “Thế giới ảo, nhưng hậu quả thật” bài học được chứng minh qua nhiều vụ việc một dòng bình luận ác ý hay một cú nhấp chuột bất cẩn dẫn đến khủng hoảng truyền thông, mất dữ liệu cá nhân, thậm chí ảnh hưởng lâu dài đến tâm lý và tương lai của người trẻ.

Tiến sĩ Mai Thị Thùy Hương, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng, mạng xã hội hiện là không gian giao tiếp chính của HSSV, nhưng cũng là nơi dễ phát sinh các hành vi thiếu chuẩn mực do tính ẩn danh, lan truyền nhanh và khả năng tạo hiệu ứng đám đông.

Việc tiếp xúc thường xuyên với nội dung tiêu cực và những trào lưu “drama hóa” khiến nhiều bạn trẻ dần chai sạn cảm xúc, giảm khả năng đồng cảm và tôn trọng người khác. Đây là hiện tượng đáng báo động bởi nó bào mòn dần các giá trị nền tảng của văn hóa học đường.

Ở góc nhìn công nghệ, Thạc sĩ Trần Vũ Nguyên, Chủ nhiệm Cộng đồng Giáo viên Số Google nhấn mạnh tốc độ phát triển và triển khai công nghệ hiện nay nhanh đến mức tạo ra một thách thức phức tạp và cấp tính.

Nếu quá tập trung vào tốc độ mà bỏ quên sự chuẩn hoá về đạo đức, an toàn dữ liệu và năng lực số, hệ quả sẽ là sự gia tăng rủi ro về liêm chính học thuật, phụ thuộc công nghệ hoặc thậm chí là các lỗ hổng trong bảo mật. Ông cảnh báo rằng nếu một khung văn hoá ứng xử số rõ ràng không được xây dựng song song với quá trình chuyển đổi số, những nguy cơ đó sẽ leo thang nhanh chóng.

Khái niệm “văn hoá học đường số” vì thế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đó không chỉ là những quy định cứng nhắc mà là tập hợp các chuẩn mực, thái độ và hành vi của toàn bộ cộng đồng giáo dục, từ cán bộ quản lý, giáo viên đến HSSV, khi khai thác và sử dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) trong học tập và đời sống. Văn hoá này phải dựa trên các giá trị cốt lõi của quốc gia, đồng thời bao gồm cả kỹ năng số, nhận thức về quyền riêng tư, hiểu biết về an toàn thông tin và đạo đức liên quan đến thuật toán AI.

Giáo dục văn hóa số bảo vệ học sinh, sinh viên trên không gian mạng

Theo Thạc sĩ Trần Vũ Nguyên, Việt Nam cần xây dựng một khung văn hoá học đường số tích hợp (VN-DSC) như một “hệ thống bảo vệ” thiết yếu để hướng dẫn HSSV trở thành công dân số có trách nhiệm. Đây sẽ là kim chỉ nam giúp các nhà trường triển khai công nghệ và AI một cách nhân văn, an toàn, hạn chế tối đa các hệ lụy ngoài mong muốn.

Không chỉ dừng ở vấn đề quản lý, giáo dục văn hóa số còn cần “đi vào đời sống” của từng học sinh. PGS.TS Nguyễn Toàn Thắng, nguyên Viện trưởng Viện Văn hoá phát triển (Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) nhấn mạnh ba trụ cột quan trọng để hình thành văn hoá ứng xử số trong nhà trường.

Thứ nhất, giáo dục về giao tiếp và ứng xử chuẩn mực trên không gian mạng. Điều này bao gồm việc sử dụng ngôn ngữ có văn hoá, tôn trọng người khác, không lan truyền thông tin sai lệch hoặc các nội dung tiêu cực. Trong bối cảnh tin giả và xu hướng bạo lực ngôn từ ngày càng gia tăng, kỹ năng này trở thành hành trang không thể thiếu.

Ths. Trần Vũ Nguyên, Chủ nhiệm Cộng đồng giáo viên số Google báo cáo tham luận “Xây dựng văn hóa học đường số tại Việt Nam”.

Thứ hai, đảm bảo an toàn mạng và an toàn thông tin. HSSV cần được trang bị kiến thức để nhận biết và phòng tránh các nguy cơ như lừa đảo trực tuyến, đánh cắp danh tính, xâm phạm quyền riêng tư, cũng như biết cách tự bảo vệ thông tin cá nhân. Việc thiếu kỹ năng này chính là nguyên nhân khiến nhiều bạn trẻ trở thành nạn nhân của các vụ tấn công mạng hay lộ lọt dữ liệu.

Thứ ba, sử dụng công nghệ có trách nhiệm. Điều đó đồng nghĩa với việc hướng dẫn người trẻ dùng mạng xã hội, công cụ số và AI phục vụ học tập, sáng tạo và giải trí lành mạnh, tránh lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích.

Các đại biểu tham dự hội nghị.

Xây dựng văn hoá ứng xử số không chỉ là nhiệm vụ của riêng nhà trường hay gia đình mà là trách nhiệm của cả xã hội. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, mỗi HSSV cần hiểu rằng mình không chỉ là người sử dụng công nghệ mà còn là người định hình môi trường số. Một cú nhấp chuột, một lời bình luận hay nội dung được chia sẻ đều có thể tạo giá trị hoặc gây tổn thương.

Để thế hệ trẻ trở thành những “công dân số có trách nhiệm”, chúng ta cần nuôi dưỡng ở họ khả năng tư duy phản biện, bản lĩnh trước áp lực của mạng xã hội, tinh thần tôn trọng người khác và ý thức tuân thủ pháp luật. Văn hoá ứng xử số chính là “lá chắn mềm” giúp bảo vệ các em trước rủi ro, đồng thời là “đòn bẩy” để HSSV phát huy tối đa tiềm năng trong kỷ nguyên số.

Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, qua 8 năm triển khai Quyết định số 1299, Chỉ thị số 08 và Quyết định số 1895 đã tạo chuyển biến rõ rệt trong nhận thức và hành vi của học sinh, góp phần cải thiện môi trường văn hóa học đường. Nhiều trường học chú trọng xây dựng không gian xanh, quy tắc ứng xử văn minh, nói không với bạo lực, kỳ thị, tạo môi trường học tập an toàn, tôn trọng và truyền cảm hứng.

Bài viết liên quan

Đến ngày 1/12, toàn bộ học sinh vùng bị ngập lụt ở Khánh Hòa đã đi học trở lại

Đến ngày 1/12, toàn bộ học sinh vùng bị ngập lụt ở Khánh Hòa đã đi học trở lại

calendar-icon 01/12/25 16:10
Theo Thông Tấn Xã Việt Nam - Sáng 1/12, tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Khánh Hòa, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã trao tặng sách cho học sinh các địa phương bị ngập lụt, hư hỏng sách, vở. Đây là hoạt động nhằm chung tay hỗ trợ, chia sẻ cùng các học sinh và thầy cô vùng lũ vượt qua khó khăn, ổn định học tập. Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa Lê Đình Thuần thông tin, đến sáng 1/12, toàn bộ học sinh ở các vùng bị ngập lụt của tỉnh đã trở lại trường học, đảm bảo 100% sĩ số lớp học. Một số trường đón học sinh trở lại vào hôm nay (1/12), tập trung để các em ổn định tổ chức và làm quen trường lớp. Các thiệt hại do mưa lũ gây ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa vẫn đang được đơn vị tích cực thống kê cụ thể, khắc phục và sửa chữa, đảm bảo môi trường an toàn, sạch đẹp để học sinh học tập và vui chơi. Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức cấp phát miễn...
Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai: Bài toán lộ trình, hạ tầng và con người

Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai: Bài toán lộ trình, hạ tầng và con người

calendar-icon 13/02/26 11:25
Theo Giáo dục thời đại - Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai và tích hợp chuẩn năng lực số, trí tuệ nhân tạo vào chương trình giáo dục vừa là cơ hội và thách thức khi triển khai những yêu cầu mới này. Từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Ảnh minh họa: ITN Chuyển đổi số bắt đầu từ giáo viên Nằm cách đường biên giới hơn 10km, Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Tùng Vài (tỉnh Tuyên Quang) có gần 600 học sinh, trong đó 99% dân tộc thiểu số, chủ yếu người Mông và Dao, sinh sống rải rác ở các thôn, bản xa trường. Phần lớn phụ huynh làm nương rẫy hoặc đi làm ăn xa, khả năng hỗ trợ việc học của con em hạn chế. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu từ chủ trương chung mà trở thành bài toán cụ thể: Làm thế nào để học sinh vùng biên có thể tiếp cận học tập số, khi thiết bị thiếu, mạng Internet yếu và kỹ năng công nghệ còn nhiều...
Quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng lên hạng II

Quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng lên hạng II

calendar-icon 10/12/25 08:15
Theo Giáo dục thời đại - Độc giả hỏi quy định thời gian giữ chức danh và điều kiện để dự thi hoặc xét lên hạng, của giáo viên tiểu học. Minh họa/INT Tôi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Mỹ thuật năm 2010. Sau đó, tôi là giáo viên hợp đồng môn Mỹ thuật ở trường THCS, có đóng BHXH từ tháng 9/2010 đến tháng 9/2017. Tháng 2/2019, tôi tốt nghiệp đại học chuyên ngành tiểu học và dự thi viên chức giáo viên tiểu học. Từ tháng 4/2020, tôi được xếp vào chức danh giáo viên tiểu học hạng II, hệ số lương 2,34. Ngày 1/7/2024, tôi được xét xếp vào giáo viên tiểu học hạng III mới, hệ số lương 3,00. Vừa qua, khi có đợt xét thăng hạng giáo viên tiểu học hạng II, tôi được trả lời không đủ điều kiện vì chưa đủ 9 năm giữ vị trí của giáo viên tiểu học hạng III. Xin hỏi, thời gian tôi làm giáo viên hợp đồng, có đóng BHXH từ tháng 9/2010 tới tháng 9/2017 có được tính để xét là thời gian tương đương giữ chức danh giáo viên tiểu học hạng III để...