Giáo dục bước vào kỷ nguyên mới: Kiến tạo nền tảng vững chắc cho năm bản lề

calendar-icon 06/03/26 11:18
Tác giả: Hồ Sỹ Anh - Lê Nam

Theo Giáo dục thời đại - Bước sang 2026, năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngành Giáo dục đứng trước “thời cơ vàng” để chuyển hóa những chủ trương lớn thành các đột phá thực chất, mở rộng công bằng, nâng cao chất lượng và tự tin hội nhập, từng bước đưa giáo dục Việt Nam tiệm cận nền giáo dục tiên tiến của khu vực và thế giới. 

Học sinh trải nghiệm môi trường học tập tại Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TPHCM). Ảnh: UEL

Kiến tạo thể chế giáo dục chưa từng có

Có thể nói, năm 2025 là của thể chế giáo dục Việt Nam. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71) - một văn kiện chiến lược có ý nghĩa tương đương những nghị quyết lớn trong lịch sử đổi mới giáo dục. Nghị quyết 71 không chỉ xác lập mục tiêu dài hạn mà còn đặt ra hệ thống giải pháp mạnh mẽ về quản trị, tài chính, nhân lực và hội nhập, thể hiện tư duy “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai quốc gia”.

Song song với đó, Quốc hội ban hành mới Luật Nhà giáo và các luật sửa đổi: Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp. Đây là bước thể chế hóa và hiện thực hóa các chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước, khẳng định trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và chuyển đổi số mạnh mẽ, giáo dục tiếp tục giữ vai trò quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Mặt khác là những bước tiến rõ rệt và có hệ thống về công bằng trong tiếp cận cơ hội học tập. Công bằng không còn dừng ở khẩu hiệu hay chủ trương, mà đã được cụ thể hóa bằng các quyết sách lớn, nguồn lực rõ ràng và những thay đổi trực tiếp ở từng nhà trường, từng địa phương.

Nổi bật là Nghị quyết số 217/2025/QH15 về miễn, hỗ trợ học phí cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông và người học chương trình giáo dục phổ thông trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân. Chính sách được triển khai thống nhất từ năm học 2025 - 2026, với kinh phí khoảng 30.600 tỷ đồng mỗi năm từ ngân sách Nhà nước.

Tiếp đó, Nghị quyết số 218/2025/QH15 về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi, với tổng nguồn lực hơn 116.000 tỷ đồng. Mục tiêu đến năm 2030, toàn bộ các tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non không chỉ nâng cao chất lượng giáo dục nền tảng, mà còn tạo cơ sở bền vững cho công bằng xã hội lâu dài, bởi những chênh lệch nếu không được can thiệp sớm sẽ rất khó thu hẹp ở các bậc học sau.

Một trụ cột quan trọng khác là nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa giáo dục giai đoạn 2026 - 2035, với tổng nguồn lực dự kiến hơn 580.000 tỷ đồng. Chương trình tập trung nâng cấp hạ tầng, thiết bị, thúc đẩy chuyển đổi số và hình thành các chính sách dài hạn, trong đó có việc sử dụng một bộ sách giáo khoa thống nhất trên toàn quốc từ năm học 2026 - 2027 và tiến tới cung cấp miễn phí cho học sinh trước năm 2030, ưu tiên các vùng khó khăn.

Công bằng giáo dục năm 2025 cũng được hiện thực hóa mạnh mẽ thông qua đầu tư trường lớp, hỗ trợ giáo viên vùng khó, mở rộng trường dân tộc nội trú, trong đó có 248 trường liên cấp nội trú của các xã biên giới.

Một quyết sách mang tính đột phá trong năm qua là việc Chính phủ thông qua Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là bước đi chiến lược nhằm nâng cao năng lực hội nhập, tiếp cận tri thức và kỹ năng làm việc toàn cầu cho thế hệ trẻ.

Sinh viên thuyết trình trong một dự án đồng đào tạo môn Phát triển kỹ năng Lập trình Game ứng dụng trong thực tế, giữa Trường Đại học Công nghệ Thông tin - Đại học Quốc gia TPHCM và Tập đoàn VNG.

Những thách thức không thể né tránh

Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, giáo dục Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn: Chất lượng giáo dục giữa các vùng miền còn chênh lệch; tình trạng thiếu - thừa giáo viên cục bộ chưa được giải quyết triệt để; mạng lưới trường trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và đại học ở một số địa bàn chưa đáp ứng nhu cầu, khiến một bộ phận thanh thiếu niên “rơi khỏi hệ thống”.

Việc triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và Kỳ thi tốt nghiệp THPT với 4 môn thi giúp giảm áp lực, nhưng còn lo ngại về xu hướng học lệch, khi các môn khoa học tự nhiên và công nghệ ít được lựa chọn hơn. Việc triển khai thi tốt nghiệp THPT trên máy tính thí điểm từ năm 2027 và triển khai toàn bộ ở giai đoạn sau là thách thức, khi hạ tầng thiết bị và năng lực số trong đội ngũ giáo viên và học sinh còn chênh lệch đáng kể giữa các vùng thành thị, nông thôn và miền núi.

Với Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, tình trạng thiếu giáo viên tiếng Anh trình độ cao, đặc biệt ở vùng khó khăn; sự chênh lệch lớn về chất lượng dạy - học giữa các địa phương; hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ và mặt bằng năng lực ngoại ngữ của học sinh còn thấp là những rào cản hiện hữu. Việc triển khai đề án này đòi hỏi lộ trình linh hoạt, phân vùng rõ ràng, tránh áp dụng cào bằng, đồng thời gắn chặt với cải cách chương trình, phương pháp dạy học và đánh giá.

Bước sang năm 2026, giáo dục Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển từ “hoàn thiện thể chế” sang “đổi mới thực chất”. Trọng tâm trước hết là hoàn thiện quy hoạch tổng thể mạng lưới trường lớp từ mầm non đến đại học trên cơ sở dữ liệu dân số và nhu cầu nhân lực, bảo đảm phân bổ nguồn lực công bằng và hiệu quả. Đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị và dạy học đối với giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

Cùng với toàn xã hội, ngành Giáo dục phải đi đầu trong công cuộc “Bình dân học vụ số”. Từng bước triển khai giáo dục thông minh, hướng tới cá thể hóa việc học, hỗ trợ học sinh yếu thế và nâng cao hiệu quả quản lý. Kế hoạch thí điểm thi tốt nghiệp THPT trên máy tính cho khoảng 100.000 học sinh là bước đi quan trọng trong lộ trình này.

Năm 2026 không chỉ đơn thuần là sự tiếp nối, mà chính là năm bản lề để chuyển hóa các bộ luật, nghị quyết thành những thay đổi hiện hữu trong từng lớp học. Khi những rào cản về học phí được gỡ bỏ, vị thế nhà giáo được bảo vệ và công nghệ số len lỏi vào từng vùng biên giới, giáo dục sẽ thực sự trở thành động lực trung tâm đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Bài viết liên quan

Xóa mù chữ trong giai đoạn mới: Không để ai bị bỏ lại phía sau

Xóa mù chữ trong giai đoạn mới: Không để ai bị bỏ lại phía sau

calendar-icon 08/12/25 14:11
Theo Giáo dục thời đại - Xóa mù chữ không chỉ kế thừa truyền thống “diệt giặc dốt”, mà còn là yêu cầu để đảm bảo cơ hội phát triển công bằng trong bối cảnh hội nhập. Các đơn vị cần tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện công tác xóa mù chữ. Ảnh: Mộc Trà. Xóa mù chữ – nền tảng của phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số Phân tích bối cảnh, thách thức và định hướng chiến lược để nâng cao chất lượng công tác xóa mù chữ (XMC) giai đoạn 2025–2030, đặc biệt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi; ông Nguyễn Xuân Thủy – Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên (Bộ GD&ĐT) – cho hay, công tác XMC hiện nay không chỉ là nhiệm vụ kế thừa truyền thống “diệt giặc dốt”, mà còn là yêu cầu sống còn để đảm bảo cơ hội phát triển công bằng trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Cách đây 80 năm, ngay sau ngày nước Việt Nam Dân...
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người DTTS: Điều kiện để Tây Bắc bứt phá

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người DTTS: Điều kiện để Tây Bắc bứt phá

calendar-icon 27/01/26 09:40
Theo Giáo dục thời đại - Từ lớp học nội trú vùng cao đến hợp tác xã công nghệ số và những quyết sách mới, Tây Bắc đang từng bước hình thành đội ngũ nhân lực dân tộc thiểu số đủ tầm dẫn dắt phát triển. Giờ học Công nghệ ô tô với thiết bị hiện đại tại Trường Cao đẳng Lào Cai. Yêu cầu mới về nhân lực Khu vực Tây Bắc (gồm Điện Biên, Sơn La, Lai Châu và Lào Cai) - vùng không gian đặc biệt của đất nước, nơi hội tụ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và tiềm năng phát triển, nhưng cũng đối mặt với thách thức lớn về địa hình, hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực. Trong nhiều năm, câu chuyện giáo dục ở Tây Bắc thường xoay quanh phổ cập, duy trì sĩ số và đưa trẻ em đến trường. Đó là bước tiến căn bản và đáng trân trọng. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, khi các tuyến cao tốc, khu công nghiệp, đô thị du lịch và nông nghiệp công nghệ cao dần hiện hữu, bài toán đặt ra không còn dừng ở “đi...
 Hà Tĩnh hướng dẫn tuyển sinh lớp 1, lớp 6 năm học 2026–2027

Hà Tĩnh hướng dẫn tuyển sinh lớp 1, lớp 6 năm học 2026–2027

calendar-icon 07/03/26 10:04
Theo Giáo dục thời đại - Việc tuyển sinh được thực hiện chủ yếu theo hình thức xét tuyển, đảm bảo công khai, minh bạch và hoàn thành trước ngày 31/7/2026.  Công tác tuyển sinh lớp 1 và lớp 6 tại Hà Tĩnh dự kiến hoàn thành trước ngày 31/7/2026. Ngày 5/3, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh ban hành văn bản số 614/SGDĐT-GDPT hướng dẫn công tác tuyển sinh lớp 1 và lớp 6 năm học 2026–2027 đối với các địa phương và cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh. Theo hướng dẫn, công tác tuyển sinh đầu cấp phải thực hiện đúng quy định hiện hành của Bộ GD&ĐT, bảo đảm công khai, khách quan, công bằng, thuận lợi cho học sinh và phụ huynh. Đồng thời bảo đảm mọi trẻ em trong độ tuổi đều được tiếp cận giáo dục phổ thông, góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ phổ cập giáo dục. Trẻ em dân tộc thiểu số được phép vào lớp 1 muộn hơn, nhưng không quá 3 tuổi so với độ tuổi quy định. Đối với tuyển sinh lớp 1, đối tượng là trẻ 6 tuổi (sinh năm 2020). Một số trường hợp đặc...