Đưa chủ trương vào thực tiễn, lan tỏa tinh thần đổi mới từ lớp học vùng cao

calendar-icon 19/01/26 09:26
Tác giả: Đức Hạnh

Theo Giáo dục thời đại - Tuyên Quang thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục, thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương từ các lớp học vùng cao.

Triển khai đổi mới, chất lượng giáo dục vùng khó khăn tại Tuyên Quang chuyển biến tích cực.

Đổi mới từ quản lý đến điều kiện dạy và học

Những năm gần đây, cùng với việc triển khai các chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, tỉnh Tuyên Quang đã có nhiều cách làm chủ động, sáng tạo, từng bước đưa đổi mới giáo dục “chạm” tới từng nhà trường, từng lớp học.

Từ quản lý, đầu tư cơ sở vật chất đến đổi mới phương pháp dạy học, các giải pháp đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục một cách thực chất, bền vững, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

Một trong những điểm nhấn rõ nét của giáo dục Tuyên Quang là đổi mới công tác quản lý theo hướng phân cấp, tăng quyền chủ động cho cơ sở giáo dục. Ngành Giáo dục tỉnh đã rà soát, sắp xếp mạng lưới trường lớp phù hợp với thực tiễn địa phương, bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu học tập của học sinh ở từng vùng miền.

Lớp học tại xã Khâu Vai, Tuyên Quang.

Cùng với đó, công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên được thực hiện sát nhu cầu thực tế. Các kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, tập huấn chương trình giáo dục phổ thông mới, nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ, giáo viên được triển khai thường xuyên, tạo điều kiện để giáo viên yên tâm công tác, chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy.

Đáng chú ý, chuyển đổi số trong giáo dục được Tuyên Quang xác định là khâu đột phá. Đến nay, hầu hết các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh đã được kết nối Internet, ứng dụng phần mềm quản lý nhà trường, hồ sơ điện tử, học bạ số. Nhiều thủ tục hành chính trong ngành được thực hiện trực tuyến, giảm áp lực hồ sơ sổ sách cho giáo viên, giúp nhà trường tập trung nhiều hơn cho hoạt động chuyên môn.

Song song với đổi mới quản lý, tỉnh cũng ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, nhất là ở những địa bàn khó khăn. Nhiều trường học được xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp; phòng học kiên cố, phòng bộ môn, thư viện, khu bán trú, nội trú từng bước được hoàn thiện, góp phần cải thiện điều kiện học tập và sinh hoạt cho học sinh.

Đổi mới giáo dục tại Tuyên Quang không dừng lại ở cơ chế hay điều kiện vật chất, mà quan trọng hơn là sự chuyển biến trong hoạt động dạy và học tại các nhà trường. Việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã thúc đẩy giáo viên mạnh dạn đổi mới phương pháp, tăng cường dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, chú trọng thực hành, trải nghiệm và vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Nhiều trường học đã tổ chức các hoạt động học tập gắn với địa phương, lồng ghép giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự học, tạo môi trường học tập thân thiện, tích cực. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy ngày càng phổ biến, giúp bài học sinh động hơn, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho học sinh, nhất là trong điều kiện thời tiết, địa hình miền núi còn nhiều trở ngại.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ngành Giáo dục tỉnh chú trọng các giải pháp mang tính căn cơ như tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, tiểu học; duy trì và nâng cao hiệu quả mô hình trường bán trú, nội trú; quan tâm chính sách hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Các tổ, nhóm chuyên môn được cử về cơ sở để hỗ trợ giáo viên vùng cao trong đổi mới phương pháp, sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ.

Những đổi mới này đã góp phần thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các vùng, tạo điều kiện để học sinh ở mọi địa bàn đều được học tập trong môi trường ngày càng tốt hơn.

Lan tỏa niềm tin từ cơ sở

Chất lượng giáo dục đi lên, niềm tin về nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng khó tại Tuyên Quang.

Thực tiễn cho thấy, khi các chủ trương đổi mới được triển khai đồng bộ và sát với điều kiện cơ sở, giáo dục Tuyên Quang đã có những chuyển biến tích cực, tạo niềm tin cho đội ngũ giáo viên, phụ huynh và học sinh. Đổi mới không còn là khẩu hiệu, mà đã hiện diện trong từng tiết học, từng lớp học, từng ngôi trường, kể cả ở những vùng khó khăn nhất.

Ông Phan Văn Tuấn, Hiệu trưởng Trường PTDTBT TH & THCS Lũng Pù, xã Khâu Vai (Tuyên Quang) phấn khởi: "Đưa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn mang lại hiệu quả trông thấy, ví dụ như việc dồn học sinh về điểm trường chính, xóa lớp ghép, trường tạm mang lại rất nhiều lợi ích cho học sinh vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn. Các em được tiếp xúc với môi trường giáo dục tốt hơn, tiếp cận chính sách sát thực hơn, đầy đủ hơn...".

Ông Hoàng Ngọc Thành, Chủ tịch UBND xã Khâu Vai chia sẻ: Từ khi chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động, giáo dục tại địa phương được quan tâm rất nhiều. Địa phương được hướng dẫn qua các buổi họp trực tuyến, trực tiếp trong việc quản lý, đưa chủ trương, chính sách đến với các cơ sở giáo dục. Các trường vùng khó được sinh hoạt nhóm chuyên môn, có sự giúp đỡ của các nhà trường vùng xuôi khiến chất lượng giáo dục đi lên một cách rõ nét.

Với cách làm bài bản, linh hoạt và lấy cơ sở làm trung tâm, giáo dục Tuyên Quang đang từng bước khẳng định hướng đi đúng đắn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho địa phương trong giai đoạn mới.

Bài viết liên quan

 Mức hưởng phụ cấp ưu đãi của giảng viên dạy môn Giáo dục chính trị?

Mức hưởng phụ cấp ưu đãi của giảng viên dạy môn Giáo dục chính trị?

calendar-icon 28/02/26 15:09
Theo Giáo dục thời đại - Độc giả có hộp thư hỏi quy định mức hưởng phụ cấp ưu đãi của giảng viên dạy môn Giáo dục chính trị ở trường cao đẳng. Tôi là giảng viên, giảng dạy môn Giáo dục chính trị tại Trường Cao đẳng Giáo dục nghề nghiệp. Căn cứ Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo, mức phụ cấp 45% áp dụng đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, hiện nay môn học ở trường cao đẳng gọi chung là môn Giáo dục chính trị (trong đó có giảng dạy nội dung về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam...), không có từng môn riêng biệt về khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Xin hỏi, mức hưởng phụ cấp ưu đãi của giảng viên dạy môn Giáo dục chính trị ở trường cao đẳng có được hưởng 45% không? (phamtue***@gmail.com) * Trả lời: Chế độ phụ cấp...
Số học sinh tăng mạnh, tỷ lệ vào lớp 10 công lập Hà Nội giảm xuống 55%

Số học sinh tăng mạnh, tỷ lệ vào lớp 10 công lập Hà Nội giảm xuống 55%

calendar-icon 06/04/26 15:20
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Số lượng học sinh tốt nghiệp THCS tại Hà Nội tăng mạnh trong năm 2026 khiến áp lực tuyển sinh lớp 10 công lập gia tăng, kéo tỷ lệ trúng tuyển xuống còn khoảng 55% dù tổng chỉ tiêu gần như không thay đổi so với năm trước. Năm học 2026–2027, Hà Nội dự kiến tuyển 81.448 học sinh vào lớp 10 các trường THPT công lập. Trong khi đó, số học sinh tốt nghiệp THCS ước khoảng 147.000 em, tăng khoảng 20.000 so với năm trước. Sự gia tăng này khiến tỷ lệ vào công lập chỉ còn khoảng 55%, thấp hơn đáng kể so với các năm gần đây. Trong tổng chỉ tiêu, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh. Trường THPT chất lượng cao Phan Huy Chú – Đống Đa tuyển 400 chỉ tiêu, trong khi 4 trường THPT chuyên của thành phố tuyển tổng cộng khoảng 2.730 học sinh. So với năm trước, quy mô tuyển sinh lớp 10 công lập gần như không biến động. Tuy nhiên, số lượng học sinh tăng nhanh đã làm gia tăng áp lực cạnh tranh, khiến cơ...
Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai: Bài toán lộ trình, hạ tầng và con người

Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai: Bài toán lộ trình, hạ tầng và con người

calendar-icon 13/02/26 11:25
Theo Giáo dục thời đại - Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai và tích hợp chuẩn năng lực số, trí tuệ nhân tạo vào chương trình giáo dục vừa là cơ hội và thách thức khi triển khai những yêu cầu mới này. Từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Ảnh minh họa: ITN Chuyển đổi số bắt đầu từ giáo viên Nằm cách đường biên giới hơn 10km, Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Tùng Vài (tỉnh Tuyên Quang) có gần 600 học sinh, trong đó 99% dân tộc thiểu số, chủ yếu người Mông và Dao, sinh sống rải rác ở các thôn, bản xa trường. Phần lớn phụ huynh làm nương rẫy hoặc đi làm ăn xa, khả năng hỗ trợ việc học của con em hạn chế. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu từ chủ trương chung mà trở thành bài toán cụ thể: Làm thế nào để học sinh vùng biên có thể tiếp cận học tập số, khi thiết bị thiếu, mạng Internet yếu và kỹ năng công nghệ còn nhiều...