Học sinh lớp 5 Việt Nam đạt mức năng lực cao nhất tại SEA-PLM 2024

calendar-icon 05/12/25 09:11
Tác giả: Hiếu Nguyễn

Theo Giáo dục thời đại - Báo cáo khu vực Chương trình Đánh giá kết quả học tập của HS tiểu học khu vực Đông Nam Á chu kỳ 2024 lĩnh vực Toán, Đọc hiểu được công bố.

Ngày 4/12, tại Manila, Philippines, diễn ra Hội nghị công bố báo cáo khu vực Chương trình Đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học khu vực Đông Nam Á (SEA-PLM) chu kỳ 2024 ở lĩnh vực Toán và Đọc hiểu. Thứ trưởng Thường trực Bộ GD&ĐT Phạm Ngọc Thưởng phát biểu trực tuyến tại Hội nghị.

Việt Nam tham gia Chương trình SEA-PLM ở chu kỳ 2019 và chu kỳ 2024. Chương trình SEA-PLM chu kỳ 2024 có 7 nước tham gia gồm: Campuchia, Timor Leste, Lào, Myanmar, Malaysia, Philippines và Việt Nam.

Các học sinh lớp 5 ở các nước tham gia hoàn thành cùng bài khảo sát năng lực Đọc hiểu, Viết, Toán được thiết kế bởi Ban Thư ký Bộ trưởng Giáo dục ASEAN (SEAMEO).

Tại chu kỳ 2024 này, Việt Nam có 152 cơ sở giáo dục tiểu học thuộc 53 tỉnh/thành phố (cũ) tham gia khảo sát, với 152 hiệu trưởng trường tiểu học, 1.074 giáo viên dạy các môn học lớp 5 cùng khoảng 6.000 học sinh lớp 5 và 6.000 phụ huynh.

Học sinh lớp 5 của Việt Nam tiếp tục mức năng lực cao nhất ở chu kỳ 2024

Theo báo cáo được công bố bởi Ban Thư ký SEAMEO cho thấy học sinh lớp 5 ở khu vực có giữ ổn định kết quả Đọc hiểu và tăng lên một tỷ lệ nhỏ ở kết quả Toán học.

Ở chu kỳ 2024, học sinh lớp 5 tiếp tục đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực Đọc hiểu với điểm trung bình là 323,5 điểm (giảm khoảng 3,86% so với chu kỳ 2019).



Quốc gia

2019

2024
Thay đổi giữa chu kỳ 2019 và 2024
Điểm Sai số chuẩn Điểm Sai số chuẩn Điểm Sai số chuẩn
Cambodia 290.1 0.82 296.4 0.69 6.3 (5.85)
Lao PDR 275.1 0.78 276.2 0.84 1.1 (1.00)
Malaysia 318.9 1.14 313.6 1.13 -5.3 (3.31)
Myanmar* 291.7 0.78 305.3 0.71 13.6 (12.89)
Philippines 287.7 0.91 289.5 1.01 1.8 (1.31)
VietNam 336.5 0.88 323.5 0.63 -13.0 (11.95)

(Điểm trung bình quốc gia lĩnh vực Đọc hiểu)

Đồng thời, học sinh lớp 5 tiếp tục đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực Toán với điểm trung bình là 334,6 điểm (giảm 1,99% so với kết quả chu kỳ 2019).

Quốc gia
2019

2024
Thay đổi giữa chu kỳ 2019 và 2024
Điểm Sai số chuẩn Điểm Sai số chuẩn Điểm Sai số chuẩn
Cambodia 289.4 0.82 301.5 0.78 12.0 (1.13)
Lao PDR 278.6 0.82 282.7 0.92 4.1 (1.23)
Malaysia 314.7 1.08 309.9 1.22 -4.8 (1.64)
Myanmar* 287.9 0.61 307.2 0.77 19.2 (0.99)
Philippines 287.9 0.84 292.8 0.93 4.9 (1.25)
Viet Nam 341.4 1.04 334.6 0.9 -6.8 (1.37)

(Điểm trung bình quốc gia lĩnh vực Toán)

Ở chu kỳ 2024, tỷ lệ học sinh Việt Nam đạt mức năng lực cao ở lĩnh vực Đọc hiểu là 66%, cao hơn tỷ lệ của các quốc gia còn lại và cao hơn mức trung bình của khu vực (đạt 40%).

Tỷ lệ học sinh lớp 5 đạt mức năng lực cao ở lĩnh vực Đọc hiểu.

Ở chu kỳ 2024, tỷ lệ học sinh Việt Nam đạt mức năng lực cao ở lĩnh vực Toán học là 88%, cao hơn tỷ lệ của các quốc gia còn lại và cao hơn mức trung bình của khu vực (đạt 36%).

Tỷ lệ học sinh lớp 5 đạt mức năng lực cao ở lĩnh vực Toán học.

Việt Nam có tỷ lệ học sinh đạt mức năng lực tối thiểu cao nhất so sánh với Mục tiêu phát triển bền vững ở lĩnh vực Đọc hiểu (86%) và Toán học (95%) theo kết quả ở chu kỳ 2024.

Tỷ lệ học sinh lớp 5 ở các quốc gia tham gia đạt mức năng lực tối thiểu theo SDG 4.1.1b – Lĩnh vực Đọc hiểu.

Tỷ lệ học sinh lớp 5 ở các quốc gia tham gia đạt mức năng lực tối thiểu theo SDG 4.1.1b – Lĩnh vực Toán học.

10 phát hiện từ dữ liệu SEA-PLM chu kỳ 2019 và 2024

SEAMEO cũng chia sẻ 10 phát hiện từ dữ liệu SEA-PLM chu kỳ 2019 và 2024 tại Hội nghị và được đề cập chi tiết trong Báo cáo khu vực.

Thứ nhất, chỉ có một nửa học sinh đạt mức năng lực tối thiểu ở lĩnh vực Đọc hiểu và chỉ một phần ba số học sinh đạt ở lĩnh vực Toán, cho thấy nhu cầu cấp thiết tăng cường đầu tư cho học tập nền tảng, ưu tiên nhóm yếu thế và các trường khó khăn.

Thứ hai, kết quả học tập duy trì ổn định dù có nhiều cú sốc từ năm 2019, nhưng cần hành động hướng tới tương lai và đầu tư cho hệ thống giáo dục.

Thứ ba, học sinh ở nhóm năng lực yếu cải thiện chậm, đòi hỏi chiến lược can thiệp có mục tiêu và hỗ trợ tăng tốc để thu hẹp khoảng cách.

Thứ tư, rào cản học tập vẫn tồn tại, ảnh hưởng khác nhau giữa kết quả của học sinh nam và nữ, cần xây dựng hệ thống giáo dục để đảm bảo cơ hội bình đẳng.

Thứ năm, điều kiện về kinh tế - xã hội vẫn ảnh hưởng nhiều đến kết quả của học sinh.

Thứ sáu, cơ hội học tập sớm và nguồn lực trường học tác động tốt hơn tới kết quả của học sinh.

Thứ bảy, học sinh đạt kết quả tốt hơn khi ngôn ngữ sử dụng ở nhà tương thích với ngôn ngữ trong bài đánh giá.

Thứ tám, trình độ giáo viên đã cải thiện nhưng vẫn thiếu năng lực sư phạm.

Thứ chín, đầu tư cho giáo dục đang có xu hướng giảm trong khi cơ hội dân số vàng – giai đoạn lực lượng lao động chiếm tỷ lệ cao – đang dần khép lại. Do đó, hệ thống giáo dục cần nâng cao tính công bằng và hiệu quả, đảm bảo mọi người học đều được tiếp cận giáo dục chất lượng, đồng thời tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực để duy trì tăng trưởng bền vững.

Thứ mười, việc sử dụng dữ liệu để ra quyết định còn hạn chế, cần tăng cường theo dõi tiến độ, nhân rộng thực hành hiệu quả và thúc đẩy hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng.

Minh chứng tinh thần hợp tác bền chặt, cam kết nâng cao chất lượng giáo dục

Thay mặt Lãnh đạo Bộ GD&ĐT Việt Nam, Thứ trưởng Thường trực Phạm Ngọc Thưởng gửi lời chúc mừng các quốc gia đã tham gia và đạt được những kết quả tích cực được công bố tại Hội nghị.

Bộ GD&ĐT Việt Nam cảm ơn Ban Thư ký SEAMEO, các nhà tài trợ, đối tác phát triển của khu vực và quốc tế đã làm việc tích cực, khoa học, đồng hành với các quốc gia triển khai thành công Chương trình với các kết quả tin cậy, thuyết phục.

Thứ trưởng Thường trực nhấn mạnh: “Sự thành công của Kế hoạch chiến lược 05 năm giai đoạn 2021-2025 trong đó gồm triển khai Chương trình SEA-PLM chu kỳ 2024 là minh chứng cho tinh thần hợp tác bền chặt và cam kết nâng cao chất lượng giáo dục trong toàn khu vực”.

Bộ GD&ĐT Việt Nam đánh giá cao giá trị của bộ dữ liệu, báo cáo Chương trình SEA-PLM chu kỳ 2024. “Bộ dữ liệu, báo cáo kết quả Chương trình thực sự quan trọng, ý nghĩa đối với Việt Nam cũng như các quốc gia trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách phát triển giáo dục trong thời gian tới”, Thứ trưởng Thường trực cho biết.

Theo Thứ trưởng Thường trực, Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu hội nhập sâu rộng, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện.

“Giáo dục Việt Nam được ưu tiên phát triển với định hướng chiến lược, giải pháp đột phá nâng cao chất lượng và công bằng giáo dục. Những kết quả tích cực, kinh nghiệm tốt đạt được trong quá trình tham gia các chương trình đánh giá khu vực, quốc tế sẽ được Bộ GD&ĐT áp dụng thực hiện các giải pháp đổi mới hoạt động dạy học, đánh giá học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và hội nhập quốc tế”, Thứ trưởng Thường trực nói.

Trong những năm tới, Bộ GD&ĐT Việt Nam sẵn sàng hợp tác và tham gia chủ động, tích cực các sáng kiến, kế hoạch hành động của Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng giáo dục các nước Đông Nam Á về lĩnh vực giáo dục, phù hợp với chủ trương và chính sách của Việt Nam.

Bài viết liên quan

Khẩn trương xét thăng hạng giáo viên: Cần cơ chế linh hoạt

Khẩn trương xét thăng hạng giáo viên: Cần cơ chế linh hoạt

calendar-icon 12/12/25 11:15
Theo Giáo dục thời đại - Sau khi Bộ GD&ĐT ban hành Công văn số 7723/BGDĐT-NGCBQLGD về việc rà soát, đánh giá thực trạng thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên, các địa phương đang khẩn trương triển khai theo các quy định hiện hành. Cô trò Trường Tiểu học Ngô Quyền (Ninh Kiều, TP Cần Thơ). Ảnh: Nguyên Việt Việc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên nhằm chuẩn hóa đội ngũ, nâng cao chất lượng giáo dục và đảm bảo quyền lợi cán bộ, giáo viên, nhân viên trường học. Băn khoăn từ cơ sở Bà Lê Hồng Quang - Hiệu trưởng Trường Mầm non Tam Quang (Tam Quang, Nghệ An) cho biết, khác với các cấp học phổ thông, giáo viên mầm non có khởi điểm trong bảng xếp hạng vị trí việc làm là hạng IV. Thời gian qua, hầu hết giáo viên của trường đã được xét thăng hạng từ hạng IV lên hạng III, nhưng còn nhiều người đã đủ tiêu chí nhưng chưa được xét lên hạng II. Theo chia sẻ của bà Lê Hồng Quang thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, xóa bỏ cấp huyện, cán bộ...
Số học sinh tăng mạnh, tỷ lệ vào lớp 10 công lập Hà Nội giảm xuống 55%

Số học sinh tăng mạnh, tỷ lệ vào lớp 10 công lập Hà Nội giảm xuống 55%

calendar-icon 06/04/26 15:20
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Số lượng học sinh tốt nghiệp THCS tại Hà Nội tăng mạnh trong năm 2026 khiến áp lực tuyển sinh lớp 10 công lập gia tăng, kéo tỷ lệ trúng tuyển xuống còn khoảng 55% dù tổng chỉ tiêu gần như không thay đổi so với năm trước. Năm học 2026–2027, Hà Nội dự kiến tuyển 81.448 học sinh vào lớp 10 các trường THPT công lập. Trong khi đó, số học sinh tốt nghiệp THCS ước khoảng 147.000 em, tăng khoảng 20.000 so với năm trước. Sự gia tăng này khiến tỷ lệ vào công lập chỉ còn khoảng 55%, thấp hơn đáng kể so với các năm gần đây. Trong tổng chỉ tiêu, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh. Trường THPT chất lượng cao Phan Huy Chú – Đống Đa tuyển 400 chỉ tiêu, trong khi 4 trường THPT chuyên của thành phố tuyển tổng cộng khoảng 2.730 học sinh. So với năm trước, quy mô tuyển sinh lớp 10 công lập gần như không biến động. Tuy nhiên, số lượng học sinh tăng nhanh đã làm gia tăng áp lực cạnh tranh, khiến cơ...
Phối hợp toàn diện để giáo dục toàn diện

Phối hợp toàn diện để giáo dục toàn diện

calendar-icon 23/12/25 14:20
Theo Giáo dục thời đại - Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội là yếu tố quyết định đến sự phát triển toàn diện của học sinh. Cô, trò Trường THPT Yên Lãng (Hà Nội). Đồng hành, trách nhiệm Tại thôn Thuần Mỹ (xã Bất Bạt, Hà Nội) từ nhiều năm qua, cứ 19 giờ, đồng loạt trên loa truyền thanh của các thôn lại vang lên âm thanh rộn rã của tiếng trống thúc học bài cùng lời căn dặn “Đã đến giờ tự học buổi tối. Học tập suốt đời - chìa khóa của mọi thành công, học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc. Xin mời tất cả chúng ta cùng nhau tự học”. Khi tiếng trống học bài vang lên, từng ngôi nhà rộn ràng ánh đèn học tập, học sinh nghiêm túc ngồi vào bàn, chăm chú ôn bài trong không khí yên bình của làng quê. Hình ảnh ấy thể hiện rõ tinh thần hiếu học và sự đồng hành trách nhiệm giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Ông Lê Minh Đức - Hiệu trưởng Trường THCS...